Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài Viết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài Viết. Hiển thị tất cả bài đăng

'Happy New Year' - giai điệu bất hữu của mùa xuân

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

0 nhận xét
Hơn 30 năm tồn tại, bản nhạc dành cho năm mới của nhóm nhạc Thụy Điển ABBA vẫn có một sức sống mãnh liệt và ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam qua nhiều thế hệ.

Nằm trong album Super Trouper và ra đời từ năm 1980, Happy New Year mang phong cách Pop đặc trưng của Abba. Ca khúc này có thể không phổ biến ở các nước phương Tây nhưng với nhiều thế hệ người yêu nhạc Việt Nam, chưa một giai điệu nào có thể thay thế Happy New Year vào mỗi độ xuân về. Trải qua ba thập kỷ, những giai điệu đẹp ấy đã, đang và sẽ vẫn làm rung động lòng người khi được ngân vang vào khoảnh khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới.

No more champagne 
And the fireworks are through 
Here we are, me and you 
Feeling lost and feeling blue 
It's the end of the party 
And the morning seems so grey 
So unlike yesterday 
Now's the time for us to say...

Khi những câu hát đầu tiên vang lên qua giọng ca của nữ ca sĩ Agnetha Faltskog, người nghe như thấy tâm hồn mình trùng lại với một nỗi buồn sâu lắng. Một năm trôi qua quá nhanh với biết bao kỷ niệm vui, buồn. Ngày cuối cùng của năm cũ, ai cũng cảm thấy một nỗi niềm xốn xang, hồi hộp và không kém phần luyến tiếc những tháng ngày đã qua. Bữa tiệc nào rồi cũng có lúc tàn, không có niềm vui nào kéo dài mãi mãi. Tuy nhiên, bữa tiệc chia tay năm cũ thì lại khác, vì đó là thời khắc mà tất cả chúng ta đều nói...

Nhóm nhạc huyền thoại ABBA.


Happy new year
Happy new year
May we all have a vision now and then
Of a world where every neighbour is a friend
Happy new year 
Happy new year 
May we all have our hopes, our will to try 
If we don't we might as well lay down and die 
You and I"

Khi điệp khúc vang lên, tất cả người nghe như hòa chung vào một cảm xúc bất tận. Năm mới đã sang, không còn những lo toan, bề bộn của năm cũ mà chỉ có niềm vui, niềm hạnh phúc và những hy vọng vào tương lai tươi sáng. Mùa xuân là mùa của những sự khởi đầu mới. Khi Happy New Year được ngân vang, người nghe ít chú ý tới ca từ của nó mà chỉ biết tận hưởng những nốt nhạc tràn đầy sự hân hoan.

Thực ra lời ca của Happy New Year không hề tươi vui như giai điệu, thậm chí còn có phần hơi ảm đạm. Tuy nhiên, nỗi buồn thể hiện trong bài hát lại hiện lên thật đẹp đẽ, thật sâu lắng khiến người nghe có cảm giác như đang được thưởng thức một ly rượu táo thơm nồng, mang đủ hương vị đắng, cay, ngọt, chát.

ABBA là chủ nhân của ca khúc bất hủ "Happy New Year".

Hơn 30 năm trôi qua, cho dù giai điệu của Happy New Year được cất lên từ chiếc đài cát sét cũ kỹ trong căn gác nhỏ của một khu phố cổ hay những bữa tiệc tất niên sang trọng với rượu vang và nến, thì cảm xúc nó đem lại cho người nghe vẫn trọn vẹn như lần đầu tiên xuất hiện.

Không ai còn nhớ Happy New Year của nhóm Abba du nhập vào VN từ thời điểm nào, cũng chẳng ai biết tại sao giai điệu này lại có sức ảnh hưởng mãnh liệt đến vậy. Chỉ biết rằng, mỗi khi những câu hát bất tử này vang lên, ai ai cũng biết rằng một mùa xuân mới đang về.

Nguyên Minh
VNExp

---------------------------------------------------------------------

BẠN CÓ MUỐN ĐÀN VÀ HÁT BÀI NÀY TRONG DỊP TẾT KHÔNG???
CHỈ 1 CÂY ĐÀN YAMAHA PSR 550, THÌ BẠN CÓ THỂ TỰ ĐÀN NGHE CŨNG VIP LẮM.

NHANH TAY DOWNLOAD TRỌN BỘ BÀI "HAPPY NEW YEAR": LỜI BÀI HÁT ĐƯỢC "LINH PHƯƠNG" SÁNG TÁC LẠI NHẠC THÁNH
STYLE - MIDI - SHEET - MP3
CHÚC BẠN THÀNH CÔNG


Một câu chuyện cảm động nhân Lễ Tạ Ơn

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

0 nhận xét



Nhân ngày Lễ Tạ Ơn, xin được chia sẻ cùng quí vị câu chuyên cảm động và ý nghĩa về một người đã khuất, ông Al Christine, còn gọi là Alex Christine Sr.

Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay rơi đúng vào Thanksgiving Day, Ngày Lễ Tạ Ơn, một truyền thống tri ân cao đẹp ở đất nước Mỹ mà chính các di dân đến Hiệp Chủng Quốc cũng thấy mình học hỏi được rất nhiều điều hay từ ngày lễ này. 

Và Thanh Trúc cũng mạn phép nhân ngày Lễ Tạ Ơn để xin được chia sẻ cùng quí vị câu chuyên cảm động và ý nghĩa về một người đã khuất, ông Al Christine, còn gọi là Alex Christine Sr., qua lời thuật từ vị khách mời quen thuộc của mục Đời Sống người Việt Khắp Nơi, linh mục Martino Nguyễn Bá Thông. 

Một người Mỹ luôn tươi cười

Giáo đường Saint Mary On The Hill, Augusta, Georgia, đã không biết tự bao giờ, hàng cuối cùng bên tay phải, ghế thứ ba từ ngoài đếm vào, mỗi chiều thứ Bảy, đó là chỗ ngồi của ông.

Một người Mỹ trắng, cụt một tay, cụt một chân, mặt luôn tươi cười mà chừng như thân xác đang chịu đựng nỗi đau triền miên, đó là Alex Christine. Và câu chuyện bắt đầu:
Chúng ta đang sống được trên thế giới tự do, chúng ta  phải cám ơn những người như ông. Trong ngày Lễ Tạ Ơn này chúng tôi cám ơn ông.
LM Nguyễn Bá Thông

“Thật sự đó là một phần mình viết cho bài giảng trong Lễ Tạ Ơn này. Như quí vị biết tôi chịu chức linh mục năm 2004, về một giáo xứ hoàn toàn là người Mỹ trắng. Tôi cứ nói đùa là giáo xứ chỉ có một mình tôi không giống ai. 

Trong mỗi buổi thánh lễ thì tôi cũng nhìn ông và ông cũng nhìn tôi. Là một linh mục thì tôi cũng chào hỏi ông, dừng lại hỏi năm ba câu. Được vài tháng thì bà vợ của ông đến nói: “Cha ơi xin Cha, bà dùng chữ là xin Cha thân mật với ông một tí bởi vì ông có nhiều điều muốn chia xẻ với Cha lắm mà thật tình ông không dám. Ông có những tâm sự bên trong bởi vì ông đã từng ở chiến trường Việt Nam.” 

Sau đó, linh mục Martino cố tình làm thân và trò chuyện với người đàn ông tàn tật đó nhiều hơn, biết được ông là người chuyên tháo gỡ mìn, đã qua chiến trường Việt Nam hai lần:

“Đầu tiên ông qua chiến trường Việt Nam là năm 65, sau đó ông trở lại nữa. Ông là người chuyên môn hướng dẫn các quân nhân cách gỡ mìn và bom đạn được cài đặt. 

Năm 70 khi ông trở lại chiến trường Việt Nam lần thứ hai, lúc đó ông đứng đầu quân đoàn chuyên dạy cho người ta cách gỡ bom mìn. Trong một lần như thế thì mìn nổ, ông mất đi một chân và cụt một tay, trong thân xác còn nhiều mảnh đạn và ông cứ đau đớn triền miên như vậy.

Chắc quí vị đặt câu hỏi là chuyện này dính gì đến Lễ Tạ Ơn? Câu chuyện dính với Lễ Tạ Ơn là bởi vì sáu năm sau đó, năm 2010, tôi là người chủ tế nghi thức tẩm liệm cho ông tại nhà quàn vào đêm hôm trước thánh lễ an táng. Có nhiều điều làm cho tôi phải nghĩ tới, nhất là trong Lễ Tạ Ơn này. Bởi có những điều ông chưa bao giờ kể với tôi, và ngày hôm đó tôi và mọi người đều bất ngờ.”

Sau khi hoàn tất nghi thức tẩm liệm, linh mục Martino Nguyễn Bá Thông mời trưởng nam của ông Alex, một luật sư, lên nói đôi lời về người cha quá cố của mình. Và Alex Christine Jr. bắt đầu như thế này:
Nhưng, con  yêu dấu, một người đàn ông còn có nhiều trách nhiệm khác cũng quan trọng không kém trách nhiệm đối với gia đình của mình.
Alex Christine Sr.

“Bạn thử hình dung khi đang ở trong trận chiến khốc liệt, tại một chiến trường xa tổ quốc, với cái chết rình rập chung quanh, tương lai không biết đi về đâu. Hơn thế nữa, bạn không biết bạn còn có cơ hội để gặp gia đình một lần nữa không. Giữa không gian đó, bạn tìm dăm ba phút gởi một thông điệp tới người thân của bạn. Bạn sẽ nói gì viết gì?

Bốn mươi lăm năm trước, cha chúng tôi, ông Al Christine, đã đối mặt với tình huống ấy. Ngày 26 tháng Bảy năm 1965, khi đang phục vụ tại chiến trường Việt Nam trong binh đoàn Mũ Xanh Green Beret đặc trách thao gỡ bom mìn, ông đã viết lá thư đầu tiên cho người con trai trưởng trong gia đình, Alex Junior, lúc đó 14 tuổi. Đó là tôi. Ông không biết rằng đúng bốn mươi lăm năm sau ngày ông thảo lá thư đó từ chiến trường, tôi, em trai Brian, em gái Kathleen, em trai út Bobby, lại có mặt nơi đây để đưa tiễn ông. 

Ông đã bị thương tại chiến trường Việt Nam, nhưng vẫn tiếp tục hoàn thành hai năm phục vụ trước khi trở về quê hương. Năm 1969 ông trở qua Việt Nam, đến ngày 7 tháng Mười Một năm 1970, trong một lần chỉ huy tháo gỡ bom mìn, ông đã mất cánh tay phải và một chân trái khi đang cùng các binh sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam chiến đấu chống lại một lực lượng quân đội hùng hậu của miền Bắc. 

Cha tôi đã nhận lãnh nhiều huy chương danh dự và cao quí của quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh, những huân chương như Purple Hearts, Chiến Thương Bội Tinh, Silver Star, Bronze Star, Air Medal, Bảo Quốc Huân Chương Vietnamese Cross Of Gallantry.

Cuộc chiến Việt Nam đã cướp đi cánh tay phải và chân trái của cha tôi, để lại trong người ông hàng trăm mảnh đạn. Từ ngày đó, năm 1970, ông phải hàng ngày đối diện với nỗi đau đớn triền miên của thân xác. Thế nhưng ông luôn tươi cười và muốn làm cho mọi người chung quanh cười tươi. Hôm nay, tôi xin phép đọc lại lá thư ông viết năm 1965 từ chiến trường. Có điều tôi e rằng tôi khó có thể hoàn tất, nên tôi xin nhờ cha Martino đọc giùm cho tôi.” 

Đó là những lời phát biểu của Alex Jr. về người cha thân yêu của anh hiện đang nằm kia, một buổi chiều năm 2010. Ông Al Christine nằm đó mà như mỉm cười, lặng lẽ, bình an, không còn đau đớn. Trở lại với linh mục Martino Nguyễn Bá Thông: 

“Thì quí vị tự hỏi chuyện này có liên quan gì với Lễ Tạ Ơn? Thưa quí vị có liên quan. Trong cuộc đời linh mục của tôi thì đám tang này là đám tang thứ hai ba trăm rồi, có gì phải nói? Nhưng phải nói bởi vì câu chuyện đang được từ từ mở ra, cho tôi cảm nhận được tình yêu của ông, và đó tại sao tôi nói là ý nghĩa của Ngày Tạ Ơn.”


Ý nghĩa của Ngày Tạ Ơn

Thưa quí vị, trong lá thư đó, ông Alex Sr. viết như sau: 

“Alex, Con yêu dấu:

Tối nay cha không thể ngủ được và cha quyết định viết thư cho con. Cha thật sự không muốn phải xa con, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng cha muốn con hiểu được lý do tại sao cha phải quyết định xa con.

Chắc đã có nhiều lần con tự hỏi tại sao cha rời con, rời mẹ con, và cả gia đình! Và chắc cũng không ít lần con buồn phiền, bực tức và là cha không có mặt để chơi với con, để dẫn con đi câu cá, và làm những việc rất bình thường mà tất cả các người cha làm với các đứa con trai của mình! Và có thể, con còn ghét cha nữa.
Con, có nhiều điều mà người đàn ông phải làm! Dĩ nhiên cha rất thương con, thương mẹ con, thương các em của con! Và bởi vì cha thương các con, cha muốn được gần gũi với con!

Cha không ao ước gì hơn là được ở bên con và mẹ con, để được thấy con và giúp con khôn lớn.Cha sẽ rất hạnh phúc khi được làm điều đó, bởi vì người đàn ông sẽ không có gì cả nếu ông ta không có con cái. Vì một ngày nào đó, cha sẽ chết đi, và qua con và các em của con mà tên của cha sẽ tiếp tục sống.
Nhưng, con yêu dấu, một người đàn ông còn có nhiều trách nhiệm khác cũng quan trọng không kém trách nhiệm đối với gia đình của mình. Cha có trách nhiệm này đơn giản thôi, vì cha là một người đàn ông tự do, sống trong một đất nước tự do, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Đúng bốn mươi lăm năm sau ngày viết lá thư đó, ông Alex đã không còn đau đớn. Ông đã được diễm phúc nhìn thấy bốn đứa con của mình trưởng thành và thành đạt.
LM Nguyễn Bá Thông

Tất cả các quyền lợi và cơ hội mà con được hưởng, đôi lúc có phần lạm dụng, không phải dễ dàng mà có đâu con. Chúng ta được hưởng những cơ hội đó vì đã có những người đàn ông khác xả thân để bảo vệ nó. Có thể bây giờ con không hiếu được điều ấy, nhưng một ngày nào đó con sẽ hiểu. Chắc chắn con sẽ phải hiểu. Đó là tại sao đêm hôm nay cha viết lá thư này cho con.

Con, đừng bao giờ chần chừ bước ra khỏi cái ích kỷ của mình để chiến đấu bảo vệ tự do và quyền lợi đó. Vì nếu con chần chừ, con sẽ mất tất cả. Nếu con không sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ nó, người ta sẽ cướp nó ra khỏi tay con. Cha tin rằng đó là chân lý, là sự thật như cha tin rằng Chúa đã ban con cho cha để tiếp nối cuộc đời khi cha nằm xuống. 

Cha đang mong tới ngày cha trở về quê hương và sống bên cạnh con như cha con ta đã từng sống cách đây vài tháng. Cha mong ước điều đó hơn bất cứ điều gì khác. Nhưng con yêu dấu, nếu điều đó không xảy ra, con hãy hiểu cho cha là “tại sao cha quyết định phải xa con”, Cha tin rằng con sẽ trưởng thành và trở nên người đàn ông mà bất cứ người cha nào cũng phải hãnh diện.

Chiến trường Việt Nam 1969,
Cha của con,
Alex Christine.”


Chúng tôi cám ơn ông

Linh mục Martino Nguyễn Bá Thông.
Courtesy OBV.
Chia sẻ với Thanh Trúc, linh mục Martino Nguyển Bá Thông cho biết nước mắt ông đã tuôn trào khi đọc lá thư của người quá cố, một cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam, nay đã xuôi tay nhắm mắt:

“Có thể tôi là người đầu tiên mở màn cho những giọt nước mắt, thế là cả nhà nguyện được tự do khóc, cha con chúng tôi cùng khóc. Tôi khóc, những người Công giáo khóc, những anh em Tin Lành khóc, những người Phật giáo cũng khóc, những người vô thần cũng khóc.
Nhưng quí vị thân mến, chúng tôi khóc vì chúng tôi hãnh diện và chúng tôi tự hào. Chúng tôi tự hào và chúng tôi cám ơn nữa. Cám ơn bởi vì trên thế giới này cũng vẫn có những người như ông. 

Đặc biêt đối với tôi, tôi cám ơn ông đã cùng đồng hành với bố tôi, mẹ tôi, các cậu của tôi, cả giòng họ nhà tôi trong chiến trường. Ông không phải người Việt Nam nhưng ông tin vào một thế giới tự do và ông muốn chia xẻ cái tự do đó không phải chỉ với con cái của ông mà đối với tất cả chúng ta. Quí vị thân mến, giờ đây tôi đang ngồi chia sẻ lá thư này mà nước mắt tôi vẫn tuôn giống như lúc đó. 

Ngày hôm nay nghe câu chuyện này, có thể chúng ta cảm thấy mơ hồ, nhất là các bạn trẻ. Nhưng các bạn thân mến, chúng ta đang sống được trên thế giới tự do, chúng ta phải cám ơn những người như ông. Trong ngày Lễ Tạ Ơn này chúng tôi cám ơn ông.”



Quí vị vừa theo dõi câu chuyện cảm động về một cựu chiến binh Al Chritine, đã về bên kia thế giới và đã để lại một phần thân thể của mình ở Việt Nam, trong tinh thần và trách nhiệm của một người lính chiến. 

Một chút suy tư của linh mục Martino Nguyễn Bá Thông, một lời tri ân trong buổi tối Lễ Tạ Ơn này:

"Đúng bốn mươi lăm năm sau ngày viết lá thư đó, ông Alex đã không còn đau đớn. Ông đã được diễm phúc nhìn thấy bốn đứa con của mình trưởng thành và thành đạt. Các con của ông tiếp tục làm những gì ông đã làm dang dở. 

Alex, người con trưởng, trở thành một luật sư và cũng là chủ tịch hội đồng tài chánh của nhà thờ chính tòa giáo phận Saint Augustine. Người em gái kế, cô Kathleen, có bằng cao học giáo dục, và ông rất hãnh diện nói về người con gái này vì cô là phụ nữ đầu tiên trong cả giòng họ nhà ông, những di dân từ Ý, có bằng đại học. Người con trai thứ ba, anh Brian, là một bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ rất nổi tiếng. Cậu con út, anh Bobby,là thẩm phán của quận mà chúng tôi đang sống, cũng là chủ tịch hội đồng mục vụ thuộc giáo xứ tôi đang chăm sóc lúc bấy giờ.”

Hay là quí vị Hãy cùng Thanh Trúc cảm ơn Thượng Đế đã ban cho đời những con người như ông. 

Câu chuyện của mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi tạm ngưng ở đây. Cảm ơn quí vị đã theo dõi như đã từng theo dõi chuyên mục do Thanh Trúc phụ trách mười lăm năm qua.

Thanh Trúc sẽ trở lại cùng quí vị thứ Năm tuần tới.


Nguồn Gốc Lễ Tạ Ơn

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

0 nhận xét
Thấm thoát mà chúng ta đã bước vào những tháng cuối cùng của một năm, với những ngày lễ đặc biệt. Tháng Mười Một chúng ta có Lễ Tạ Ơn và tháng Mười Hai là lễ Giáng Sinh, kỷ niệm ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu xuống trần. Hoa Kỳ là quốc gia của những người di dân, là tập họp của nhiều sắc dân từ các nước trên thế giới. Lễ Tạ Ơn là ngày lễ của những người từ một đất nước khác di dân đến Hoa Kỳ, để cảm tạ Ðức Chúa Trời về sự dẫn dắt và hồng ân Chúa ban cho trên vùng đất mới. Chúng ta cũng là những người di dân, vì thế lễ Tạ Ơn cũng là lễ của người Việt chúng ta và có một ý nghĩa đặc biệt đối với chúng ta.

Lễ Tạ Ơn đầu tiên được tổ chức vào năm 1621. Sau khi gặt hái được vụ mùa đầu tiên, nhóm người di dân đầu tiên từ Anh Quốc đã tổ chức một buổi lễ để cảm tạ Ðức Chúa Trời đã dẫn dắt họ đến bến bờ tự do, gìn giữ họ khỏi những hiểm nguy trên vùng đất xa lạ và ban cho họ sản vật trong mùa gặt đầu tiên. Những nhóm người di dân khác đến đất nước này về sau cũng tiếp tục giữ ngày lễ Tạ Ơn để dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ và lòng biết ơn. Người Việt chúng ta luôn luôn đề cao lòng biết ơn nên chắc chắn chúng ta không thể không cảm ơn Ông Trời hay Ðức Chúa Trời, Ðấng đã đưa dẫn chúng ta đến đất nước này và đã ban cho chúng ta biết bao nhiêu ơn lành, từ vật chất đến tinh thần và tâm linh.

Lễ Tạ Ơn đầu tiên được tổ chức vào năm 1621, nhưng đến hơn hai trăm năm sau, tức là vào năm 1863, dưới thời Tổng Thống Abraham Lincoln, lễ này mới chính thức trở thành một quốc lễ, là ngày lễ cho cả nước. Lúc đó Hoa Kỳ đang ở trong cuộc nội chiến Nam-Bắc, tình hình khó khăn, tương lai mờ mịt, nhưng Tổng Thống Lincoln đã kêu gọi dân chúng dành một ngày đặc biệt để dâng lời cảm tạ Ðức Chúa Trời về những ơn lành Ngài ban. Hôm nay chúng ta cũng ở trong hoàn cảnh bi đát tương tự. Làm sao có thể dâng lời cảm tạ Chúa? Chúng ta có ơn phước gì để mà cảm tạ Chúa đâu. Ðể tìm câu trả lời, chúng ta hãy cùng nhìn lại xem tại sao trong hoàn cảnh đen tối của năm 1863 mà Tổng Thống Abraham Lincoln lại tuyên bố chọn một ngày làm ngày lễ Tạ Ơn Thiên Chúa cho toàn dân. Ông đã nêu những lý do gì để kêu gọi dân chúng dành riêng một ngày để tạ ơn Ðức Chúa Trời?

Chúng tôi xin trích lại dưới đây một phần trong bài diễn văn của Tổng thống Lincoln, tuyên bố chọn ngày Thứ Năm cuối tháng Mười Một hằng năm làm ngày Lễ Cảm Tạ. Ông nói với dân chúng Hoa Kỳ những lời như sau:


Một năm nữa lại sắp chấm dứt. Chúng ta đi vào những ngày tháng cuối của năm nay với tràn đầy phước lành, với hoa quả của đồng ruộng và bầu trời an lành. Ngoài những phước lành đó, chúng ta còn được nhiều phước lành khác, những phước lành lạ thường. Những phước lành lớn lao có thể thâm nhập hay đi thấu vào những tấm lòng vốn thờ ơ trước sự quan phòng và dẫn đắt kỳ diệu của Ðức Chúa Trời Toàn Năng, và khiến những tấm lòng thờ ơ đó phải mềm đi. Trong hoàn cảnh chiến tranh, trước những đổ nát điêu tàn kinh khủng và lớn lao chưa từng có, trật tự đã được vãn hồi, mọi người đều tôn trọng và tuân giữ luật lệ; hòa bình và sự hài hòa đã chiếm ngự khắp nơi, ngoại trừ trên chiến trường, giữa đám quân lính. Dù nhà nông đã phải chia xẻ của cải, vật thực và nhân lực cho việc phòng thủ quốc gia; cày bừa, xe cộ, tàu bè vẫn được sử dụng và hoạt động bình thường chứ không bị ngưng trệ. Dân số trong nước tiếp tục gia tăng, và đất nước ngày càng được hưởng tự do nhiều hơn, rộng rãi hơn.
Tất cả những điều tốt đẹp chúng ta có ngày nay không phải do một người nào trên đời hướng dẫn hay do bàn tay của con người làm thành. Tất cả những điều đó là những món quà quý giá, đặc biệt mà Ðức Chúa Trời Toàn Năng đã ban cho chúng ta. Trong khi nghiêm khắc sửa dạy lầm lỗi của chúng ta, Chúa vẫn nhớ đến đức nhân từ của Ngài. Tôi nhận thấy rằng, chúng ta cần nghĩ đến những phước lành Chúa ban với lòng cung kính, khiêm cung và biết ơn. Dân chúng Hoa Kỳ cần có đồng một lòng, một tiếng nói, dâng lên Ðức Chúa Trời lòng biết ơn. Vì thế tôi xin trân trọng gọi mời tất cả quốc dân Hoa Kỳ, từ các thành phố, làng mạc, các phần của đất nước, luôn cả những người đang đi trên biển hay đang sống ở nước ngoài, hãy dành ngày Thứ Năm cuối cùng của tháng Mười Một sắp đến đây, làm ngày để cảm tạ và tôn cao Cha của chúng ta, là Ðấng cai quản trên các từng trời. Tôi cũng kêu gọi đồng bào hãy quan tâm chăm sóc cứu giúp những người đã trở thành góa bụa, mồ côi, những người đang than khóc và đau khổ vì ảnh hưởng của chiến tranh. Những đau thương này chúng ta không tránh được. Xin đồng bào hết lòng khẩn cầu Ðức Chúa Trời Toàn Năng chữa lành những thương đau của đất nước và phục hồi đất nước chúng ta, theo ý định tốt đẹp của Ngài, để chúng ta sớm được hưởng trọn vẹn bình an, hài hòa, yên lành và hiệp một.
Viết tại Washington, ngày 3 tháng 10 năm 1863, năm của Chúa chúng ta.
Ký tên: Abraham Lincoln.



Biết về nguồn gốc của lễ Tạ Ơn sẽ giúp chúng ta thấy được ý nghĩa của ngày lễ một cách rõ ràng hơn. Dù đã gần một trăm năm mươi năm kể từ ngày Ngày Lễ Tạ Ơn được thiết lập và dù có biết bao nhiêu thay đổi trong cách sinh hoạt và làm việc của mọi người trong xã hội, chúng ta vẫn tiếp tục nhận ơn lành của Ðức Chúa Trời, vì thế chúng ta vẫn cần dâng lời cảm tạ Ngài. Là cha mẹ, điều làm chúng ta sung sướng hơn cả là con cái có lòng biết ơn. Nếu chúng ta hy sinh cho con, cố gắng làm lụng vất vả để cho đời sống con được đầy đủ, sung sướng mà các con không biết nói một lời cảm ơn, không có một cử chỉ, một hành động nói lên lòng biết ơn, hoặc đi bày tỏ lòng biết ơn với người khác, chúng ta thật đau lòng. Thế nhưng có thể lắm đó là cách chúng ta đang làm đối với Ðức Chúa Trời, Người Cha yêu thương, Ðấng đã ban cho chúng ta sự sống cùng bao nhiêu ơn lành khác. Ðời sống hiện tại có nhiều khó khăn và thách thức thật, nhưng so với những người tại quê nhà, với người ở các nơi khác trên thế giới, chúng ta vẫn có nhiều điều để cảm tạ Chúa. Có một bài thơ nói lên những điều bình thường trong đời sống mà chúng ta thường phàn nàn nhưng thật ra đó là những phước lành Chúa ban mà chúng ta cần dâng lời cảm tạ Chúa. Chúng tôi xin phỏng dịch lại như sau:


Hãy cảm tạ Chúa khi quần áo bạn bị chật, vì điều đó chứng tỏ bạn không thiếu ăn.
Hãy cảm tạ Chúa khi bạn phải vất vả thu dọn sau một bữa tiệc, vì điều đó cho thấy bạn còn có bạn bè và người thân ở bên mình.
Hãy cảm tạ về số tiền thuế bạn phải đóng hằng tháng, vì chứng tỏ bạn không thất nghiệp.
Hãy cảm tạ khi bạn phải làm vườn, cắt cỏ, vì như thế là bạn đang sở hữu ngôi nhà mình ở.
Hãy cảm tạ khi bạn phải trả tiền sưởi trong mùa đông vì chứng tỏ bạn đã được sưởi ấm.
Hãy biết ơn Chúa khi bạn phải giặt giũ quần áo, vì như thế là bạn có dư quần áo để mặc.
Hãy cảm tạ Chúa khi bạn tìm được một chỗ đậu ở cuối bãi đậu xe, vì bạn còn có sức khỏe, có thể bước đi trên đôi chân của mình.
Hãy cảm tạ Chúa khi trong nhà thờ có người hát lạc giọng, vì nó cho thấy tai bạn vẫn còn bén nhạy.
Hãy cảm tạ Chúa khi có người phê phán phàn nàn chính quyền, vì chứng tỏ bạn đang được sống trong một xứ tự do, bạn có thể nói lên ý kiến của mình mà không sợ gì cả.
Hãy cảm tạ Chúa khi bạn bị đồng hồ đánh thức mỗi sáng, vì điều đó chứng tỏ là bạn vẫn còn sống.



Cầu xin Chúa giúp chúng ta nhìn thấy những phước lành Chúa đang tuôn tràn trên cuộc đời chúng ta, để chúng ta có thể dâng lên Chúa lời tạ ơn với lòng biết ơn Ngài sâu xa.

Minh Nguyên
Chương Trình Phát Thanh Tin Lành

Sự Trao Đổi Thần Thượng

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

0 nhận xét

Hôm nay chúng ta không cần phải trèo lên núi cao, hay vượt qua đại dương sâu thẳm hay dở mái nhà để được ở trong sự hiện diện của Chúa. Ngay tại chổ bạn đang ở, Chúa Giê-xu, Emanuen, đang ở cùng bạn!
Đức Chúa Trời vùa giúp bạn ngày hôm nay bởi vì Huyết hoàn hảo của Chiên Con – Giê-xu Christ.

Trong thời cựu ước, dưới Kinh luật Đức Chúa Trời sẽ chỉ ở cùng bạn khi bạn hoàn toàn vâng phục. Và khi bạn sa ngã, Ngài sẽ lìa bỏ bạn. Nhưng hôm nay bạn và tôi ở dưới một giao ước hoàn toàn khác và Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ lìa bỏ chúng ta. Vì sao? Vì những gì Chúa Giê-xu đã làm tại thập tự giá. Tại thập tự giá, Chúa Giê-xu đã trở thành của lễ thiêu cho chúng ta. Ngài mang lấy mọi tội lỗi và gánh chịu hình phạt thay cho chúng ta. Sự đoán phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi của chúng ta đã ở trên Chúa Giê-xu, Đấng đã bị Cha bỏ mặt trên thập tự giá để hôm nay chúng ta có thể có sự hiện diện liên tục, không thay dời của Đức Chúa Trời trong cuộc đời chúng ta.
Chúa Giê-xu đã kêu lớn tiếng: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Ma-thi-ơ 27:46) để bạn và tôi biết chính xác chuyện gì đã xảy ra trên thập tự giá. Đó là nơi sự trao đổi thần thượng đã xảy ra. Tại thập tự giá, Chúa Giê-xu đã mang lấy mọi tội lỗi và từ bỏ sự hiện diện của Đức Chúa Trời, trong khi chúng ta mặc lấy sự công chính của Chúa Giê-xu và nhận sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà Chúa Giê-xu có. Bây giờ sự hiện diện của Đức Chúa Trời là của chúng ta đời đời. Quả là một cuộc trao đổi thần thượng!
Khi bạn làm điều tốt, Chúa ở cùng bạn. Ngay cả khi bạn vấp ngã, Ngài vẫn ở cùng bạn!
Hãy cùng tôi xem Kinh thánh nói gì về sự thừa hưởng của chúng ta trong Đấng Christ. Vì chính Đức Chúa Trời phán rằng: “Ta sẽ không bao giờ lìa  con, chẳng bao giờ bỏ con. Nên chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng: Chúa phù hộ tôi, tôi sẽ không sợ hãi; Người đời làm gì được tôi?” (Hê-bơ-rơ 13:5-6) Bạn có biết từ “không bao giờ” ở đây có nghĩa gì không? Nó có nghĩa là khi bạn mạnh mẽ, Chúa ở cùng bạn. Khi bạn yếu đuối, buồn bã, Ngài cũng ở với bạn. Khi bạn làm điều tốt, Ngài ở cùng bạn. Nhưng ngay cả khi bạn vấp ngã, Ngài vẫn ở cùng bạn.

Trong nguyên nghĩa tiếng Hy-lạp. Khi Đức Chúa Trời phán: “Ta sẽ không bao giờ lìa con, chẳng bao giờ bỏ con.” “sự phủ định gấp đôi” được sử dụng để diễn đạt ý nghĩa nhấn mạnh khả năng “không thể xảy ra”. Từ ou me được dùng trong tiếng Hy-lạp đại khái nghĩa là “không bao giờ không bao giờ” hay “mãi mãi không bao giờ”. Và sự phủ định gấp đôi này được lặp lại hai lần trong một lời phán từ Chúa. Nói cách khác, Đức Chúa Trời đang phán rằng:“Ta sẽ không bao giờ không bao giờ lìa con và mãi mãi sẽ không bao giờ bỏ con!” Bản dịch Kinh thánh Amplified thể hiện rõ sức mạnh ý Đức Chúa Trời muốn nói: “Ta nhất định sẽ không quên con, sẽ không bỏ bê con mà không trợ giúp. Ta sẽ không, sẽ không, ta sẽ không vì lý do nào mà lìa con hay bỏ con, hay để con buồn [hãy yên nghĩ nơi sự chăn giữ của ta]! Tuyệt đối không!” – Hê-bơ-rơ 13:5 AMP

Thật tuyệt, đó là những gì Chúa Giê-xu đã làm cho chúng ta! Ngài đã ban cho chúng ta sự hiện diện liên tục của Đức Chúa Trời trong chúng ta. Bạn của tôi ơi, Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ lìa bạn, Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ bỏ bạn! Nếu có ai bảo bạn rằng bạn có thể đánh mất sự hiện diện của Đức Chúa Trời, thì bạn dừng nên nghe. Một khi Đức Chúa Trời đã nói “mãi mãi không bao giờ” thì có nghĩa là “mãi mãi không bao giờ”, và Đức Chúa Trời của chúng ta không hề nói dối!

Đừng đánh giá sự hiện diện của Đức Chúa Trời và Ân huệ của Ngài dựa trên hoàn cảnh của bạn
Bây giờ thì bạn đã biết được sự hiện diện của Đức Chúa Trời trên cuộc đời bạn là được liên tục đảm bảo. Tôi muốn bạn nhận thấy rằng bạn không nên đánh giá sự hiện diện của Đức Chúa Trời và Ân huệ của Ngài dựa trên hoàn cảnh của bạn. Để giúp bạn hiểu điều này có nghĩa là gì bạn hãy cùng tôi tiếp tục nghiên cứu cuộc đời của Giô-sép.

Giô-sép đã vừa từ chối cơ hội ngàn năm có một mà vợ Phô-ti-pha hiến tặng, như người ta vẫn thường nói: “Lửa địa ngục cũng không nóng bằng cơn giận của một người đàn bị từ chối” Cô ta buộc tội Giô-sép cách độc địa rằng chàng cố tình hãm hiếp cô, vì Giô-sép bỏ chạy nên áo chàng bị cô ta giữ lại như một “bằng chứng”. Khi Phô-ti-pha nghe vợ mình kể lại câu chuyện theo phiên bản của cô ta, ông ta nổi giận lôi đình bắt giam Giô-sép, tước bỏ mọi quyền hành của Giô-sép và ném chàng vào ngục tối.

Thử đặt bạn vào hoàn cảnh của Giô-sép. Cái gì đang diễn ra ở đây vậy? Có vẽ như nó hơi quen quen nhỉ? Vết thương mà các anh quăng chàng vào hố sâu vẫn còn đâu đây trong trí nhớ chàng, giờ đây lại một lần nửa chàng bị quăng vào ngục tối ngay cả khi chàng chẳng làm gì sai cả. Đối với bất kỳ người bình thường nào cũng sẽ cay đắng và giận giữ với Đức Chúa Trời! Nhiều người sẽ hỏi: “Đức Chúa Trời Ngài đang ở đâu vậy? Tại sao Ngài mang chàng đến một chốn xa xôi, để rồi bỏ rơi chàng? Làm thế nào mà chuyện này lại xảy ra? Sự công bằng ở đâu sao không phản kháng lại lời buộc tội dối trá này?”
Nhưng thực tế Giô-sép không phải là người bình thường. Chàng biết rằng Chúa sẽ không bao giờ lìa chàng, không bao giờ bỏ chàng. Giô-sép không bận tâm đến hoàn cảnh, nhưng tập chú vào sự hiện diện của Chúa. Bất kể chàng là một tên nô lệ bình thường hay là quản gia trong nhà Phô-ti-pha hay là một tên tù tội đang đối mặt với cảnh tù đày vì tội mà mình không hề gây ra, Giô-sép không hề đánh giá Ân huệ của Đức Chúa Trời trên cuộc đời chàng dựa vào hoàn cảnh. Thay vì trở nên cay đắng, chàng tiếp tục đặt niềm hy vọng nơi Chúa. Thay vì gục ngã trước Đức Chúa Trời và cuộc đời, chàng giữ bình tĩnh, biết rằng tất cả sự thành công của mình được bao bọc trong sự hiện diện của Chúa.

Và người ơi, Chúa có giải cứu chàng không? Tôi muốn bạn tự đọc phân đoạn Kinh thánh này để xem Chúa đã làm gì cho Giô-sép:“CHÚA ở với chàng, tỏ lòng nhân từ cùng chàng, làm cho chàng được ơn trước mặt giám ngục.  Giám ngục giao thác hết các tù nhân trong tay Giô-sép. Chàng chịu trách nhiệm kiểm soát tất cả các việc xảy ra trong ngục. Giám ngục không cần quan tâm đến những việc đặt dưới quyền của Giô-sép nữa vì CHÚA ở với Giô-sép khiến cho bất luận việc gì chàng làm cũng đều thành công.” (Sáng-thế-ký 39:21-23)

NCC

Bài Học Từ Khủng Bố 9/11

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

0 nhận xét
Lịch sử sẽ vô ích nếu không rút ra được bài học. Đau khổ sẽ tiêu cực nếu không biến được thành hành động. Bài học bỗ ích và tích cực ấy có thể thấy qua việc nhân dân và chánh quyền Mỹ đã biến đau thương thành hành động đoàn kết, thống nhứt ngay trong một quốc gia đa văn hoá, đa sắc tộc chính Hiến Pháp cũng  nói rõ ràng với danh xưng của nước là Hiệp Chũng Quốc Hoa kỳ.


New York Ground Zero

Trước nhứt Cựu Tổng Thống Bush và Đệ nhứt Phu nhân Laura Bush thuộc Đảng Cộng Hoà đứng bên cạnh TT Obama và Đệ nhứt Phu nhân Michelle Obama thuộc Đảng Dân Chủ trước đài tưởng niệm Ground Zero , trong kỳ tưởng niệm thứ 10 cuộc khủng bố 911. Thật là cảm động, thật là long trọng trong lần đầu tiên này, từ khi TT Bush mãn nhiệm kỳ bàn giao cho TT Obama. Khi Toán Người Nháí hạ được trùm khủng bố Bin Laden, TT Obama có đến đây tưởng niệm những người đã bị khủng bố sát hại. Ông có mời Cựu TT Bush cùng đến nhưng TT Bush từ chối. Vì khác với Cựu TT Clinton thường xuất hiện trước công chúng và truyền hình, Cựu TT Bush không muốn xen vào việc làm của vị tổng thống đương nhiệm. Nhưng trong lễ tưởng niệm cuộc khủng bố 911 thứ mưới này, lần dầu hai vị TT- TT Bush người ra lịnh đem Bin Laden ra trước công lý sống hay chết và TT Obama kế nhiệm ra lịnh quân đội dột kích đèm xác Bin Laden đi chốn ở  địa điểm-không để lại dấu tích-  dứng bên nhau cùng tưởng niệm những người vô tội bị khủng bố sát hại một cách oan uổng.

Càng cảm động và đoàn kết hơn khi Bà  Michele Obama ôm choàng Bà Laura Bush khi khóc nức nở trước hồn thiêng những người bị khủng bố tàn sát,  ngay tại hiện trường.


 9.11 National Memorial Pool

Kế đến là ý định hy sinh để cứu thủ đô Mỹ của hai phi công F16. Hai phi công, một nữ trung úy và một nam đại tá, nhận lịnh phải cất cánh hoả tốc, máy bay không gắn kịp hoả tiển. Hai người dự định dùng máy bay của mình như hoả tiễn để phóng vào diệt chiếc máy bay mà không tặc dùng tấn công vào thủ đô nước Mỹ.

Theo cuộc phỏng vấn truyền hình của C- Span, nữ phi công đó lúc bấy giờ là Tr/ úy  Heather Penney, thuộc binh đoàn phòng vệ Quốc gia của Washington DC.

Hai phi công này biết mình không có vũ khí cần thiết để hạ máy bay nên quyết định dùng máy bay của mình làm hỏa tiễn. Hai người đồng ý máy bay của đại tá đâm vào buồng lái và máy bay của trung úy đâm vào đuôi máy bay nào không nghe lịnh tránh xa thủ dô Mỹ. Mục đích đâm vào đầu và đuôi  là hy vọng giảm bớt nguy cơ cho hành khách thuờng ngồi ở giữa.

Khi cất cánh khỏi sân bay, Tr/u Penney nói Cô nghĩ đây là lần cất cánh cuối cùng trong đời của mình, vì dùng máy bay đâm vào để tấn công như thế phần chắc là chết như Đội Thần Phong tử chiến của Nhựt. Khó thoát thân vì ghế không bung kịp con người của phi công , và hàng ngàn ngàn mảnh vụn của sự đụng chạm sẽ giết người phi công nếu bung lên được.


The south pool waterfall

Nhưng hành khách và phi hành đoàn của chiếc máy bay 93 bị không tặc còn anh hùng hơn. Những người Mỹ này đã không chế không tặc và máy bay rớt  chết hết ở một cánh đồng TV Pennsylvnia. Máy bay 93 không đến tấn công được thủ đô Washington, mục tiêu sau này tìm hiểu là khủng bố muốn tấn công Quốc hội Mỹ. Lúc bây giờ Tr/u không biết tin ấy và vào buổi xế chiều, Tr/u nhận lịnh hộ tống chiếc máy bay Air Force One chở TT Bush  trở lại căn cứ không quân  Andrews.

Nữ phi công nói  cảm nghĩ của mình. Vì nhiệm vụ khẩn cấp, phải kềm chế cảm xúc, không cần biết chết sống ra sao, thoát hiểm ra sao vì bao nhiêu tâm trí bị nhiệm vụ hoả tốc cuốn hút. Thật đúng vơi tâm lý người quân nhân trước giờ xung phong sát địch.

Nữ Tr/u nay thuộc lớp phi công nữ đầu tiên được không lực Mỹ tuyển dụng và huấn luyện sử dụng loại phản lực cơ  siêu thanh chiến đấu của Mỹ. Sau đó  Cô  có chồng hai con và giải ngũ một cách danh dự với cấp bực thiếu tá và  lần đầu tiên nhận cuộc phỏng vấn truyền hình của C- SPAN.

Tiếp theo là một em bé người Mỹ Đa Đen mới 10 tuổi khi cha bị chết trong cuộc khủng bố 911ở Tháp Đôi. Em đã biến đau thương thành hành động, như lời Đức Huỳnh Giáo chủ của Phật Giáo Hoà Hảo khuyên bổn đạo:  “Kẻ chết đã yên rồi một kiếp, người sống còn tái tiếp noi gương”. Đó là Peter Negron. Ngày lể Father Day năm 2002, em  không muốn gặp, nói, nhìn ai mà chỉ muốn ra nghĩa trang nói, “Con nhớ Ba quá, Ba ơi”.

Nhưng hai năm sau, em 13 tuổi, ăn mặc chỉnh tế, dáng đi đau khổ, giọng rung rung,  em đọc bài thơ “Stars” do một nhà thờ bé nhỏ Deborah Chandra viết trong lần tưởng niệm thứ hai cuộc khủng bố 911.


A view of the south pool waterfall with the One World Trade Centre in the background

Lần tưởng niệm thứ 10 này, Peter Negron  đã 21 tuổi, qua truyền hình xuất hiện trước toàn dân Mỹ chia xẻ những suy nghĩ biến niềm đau thành hành động của mình. Negron nói Anh dạy người em trai là Austin lúc cha chết mới 2 tuổi bây giờ là 12. “Tôi ráng dạy em tôi  tất cả những điều ba tôi dạy tôi. Chụp banh thế nào, lái xe đạp ra sao” và cách làm việc siêng năng ở trường. Negron nói y học được ở  người cha nhiều hơn khi cha chết. Negron nói muốn trở thành một pháp y và Negron hy vọng cha anh sẽ hãnh diện về hai người trẻ, anh và em anh. “ Con nhớ Ba rất nhiều, Ba ơi.’ Là lời kết luận bài nói chuyện của Anh.

Và  người Mỹ cũng vậy, tổ chức và dự lễ tưởng niệm ngày 11 tháng 9, toàn dân và toàn quốc. Tưởng niệm vì coi nhớ là bổn phận, nhớ để rút bài học cho hiện tại và  tương lai.Có người đến Ground Zero từ chiều hôm trước, đứng tưởng niệm, hồi tưởng, nhớ nhung, suy nghĩị đến mặt trời mọc ngày hôm sau. Trong buổi lễ hai vị tổng tồng nói chuyện và  tất cả khối người tham dự mườøi lần im lặng để mặc niệm. Tên của 2.983 người vô tội chết oan vì khủng bố  xuớng lên, trầm buồn, tức tửi. Hình ảnh của những người chửa lửa hy sinh để cứu nạn nhân như phảng phất đâu đây. Bóng tối của đau thuơng, uất hận hoà lẫn với  ánh sáng của niềm tin và hy vong. Hàng hàng,  lớp lớp hàng ngàn người Mỹ đến  tham dự lễ tưởng niệm  bất chấp nguy cơ khủng bố có thể tấn công vào ngày thảm kịch này. Có người từ ngoại quốc bay về để thể nghiệm niều đau khổ của thảm kịch Mỹ và chia xẻ quyết tâm đoàn kết của đất nước nhân dân Mỹ.

Truyền thông đại chúng Mỹ bỏ thói quen nhìn mặt trái tiêu cực của sự kiện để làm tin tức  lạ hấp dẫn, trong máyyngàu tưởng biệm đi hầu hết các tin trong đau thương con người đoàn kết lại, tinh thần Mỹ out of many one.

Qua cuộc tưởng niệm cuộc khủng bố 911 thứ mười, cảm tượng dọng lại rõ rệt , là người Mỹ “Không bao giờ quên”. Nhiều người  nghĩ và làm như thế và có người nói lên ý này qua hàng chữ in trên áo.

Trich nguồn: vietthuc

Quan hệ liên cá nhân trong giao tiếp

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

1 nhận xét

Liên quan đến việc giảng dạy văn hóa qua ngôn ngữ (ở đây cụ thể là tiếng Việt), tôi đã bàn đến mấy khía cạnh chính trong văn hóa giao tiếp: mức độ hoạt ngôn; các hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ và mức độ nghi thức hóa.Bài này xin bàn tiếp về khía cạnh thứ tư: các quan hệ liên cá nhân (inter-personal relationships).
Trong cái gọi là các quan hệ liên cá nhân ấy, có bốn vấn đề chính: gần gũi hay khoảng cách (proximity versus distance), có tính đẳng cấp hay bình đẳng (hierarchy versus equality), coi trọng tính công cộng hoặc riêng tư; và cuối cùng, chủ trương đồng thuận hay xung đột (consensus versus conflict). Ở đây, tôi chỉ xin đề cập đến khía cạnh thứ nhất: sự gần gũi và khoảng cách.
Mức độ gần gũi hay khoảng cách trong giao tiếp bao gồm hai khía cạnh: một, về phương diện vật lý, ở nhiều nơi, gặp nhau, người ta thường ôm nhau và hôn má nhau (hoặc hai hoặc bốn cái, tùy nền văn hóa); hai, về phương diện tâm lý, nó được thể hiện rõ nhất là qua cách xưng hô (terms of address) với việc dùng hay không dùng danh xưng (title) và việc gọi tên hoặc gọi họ của người mình đang đối thoại. Hai khía cạnh này không phải lúc nào cũng song hành với nhau. Ví dụ, so với nhiều người Tây phương khác, người Úc thường giữ khoảng cách vật lý khi gặp gỡ (ít ôm và hôn má nhau), nhưng lại rất gần gũi nhau trong cách xưng hô (ngay cả giới lãnh đạo cao nhất nước cũng đề nghị người khác gọi mình bằng tên thay vì tên họ) (1).
Người Việt Nam, nói chung, thường thích sự gần gũi ở cả hai phương diện vật lý lẫn tâm lý. Về vật lý, họ thích vỗ vai, choàng vai hay bá cổ nhau (trừ với người khác phái); và về tâm lý, thích dùng những từ chỉ quan hệ thân tộc (anh./chị/em/chú/bác/cô...).
Liên quan đến cách xưng hô của người Việt, có một số đặc điểm đã được nhiều người phân tích: một, chúng ta không có hệ thống đại từ nhân xưng chuyên biệt (kiểu “I” để chỉ ngôi thứ nhất số ít; “we”, ngôi thứ nhất số nhiều; “you” cho ngôi thứ hai, cả số ít lẫn số nhiều; “he” hay “she” cho ngôi thứ ba số ít; và “they”, số nhiều); hai, thay vào đó, chúng ta sử dụng hệ thống danh từ chỉ thân tộc (hoặc thỉnh thoảng, chức vụ) để làm đại từ tạm thời; các đại từ tạm thời này thay đổi theo từng quan hệ, thậm chí, tình cảm của người phát ngôn.
Ví dụ, tương đương với chữ “I” trong tiếng Anh, ngoài chữ “tôi” (và tao, ta, tớ, mình) tương đối phổ biến nhưng chỉ được dùng với một số điều kiện nhất định, chúng ta còn có: anh, em, bác, chú, cô, dì, v.v... (tùy theo quan hệ với người nghe).
Tương đương với chữ “you”, chúng ta có: anh, chị, em, ba, mẹ, chú, bác, cô, dì, ông, bà, v.v... (tùy theo quan hệ với người nói).
Tương đương với chữ “he” hay ‘she”, để chỉ ngôi thứ ba số ít, chúng ta thường dùng từ chỉ thân tộc + nó (ba nó, mẹ nó, chị nó, anh nó); hoặc + ta/ấy (ông ta/ấy, bà ta/ấy, anh ta/ấy, chị ta/ấy, v.v...)
Từ góc độ văn hóa, cách xưng hô này có hai đặc điểm nổi bật:
Thứ nhất, nó biến xã hội thành một gia đình mở rộng, ở đó, ai cũng là bà con của nhau: người này là anh, người kia là chị, người nọ là bác hay là cô, v.v... Hai người hoàn toàn xa lạ với nhau, lần đầu tiên gặp nhau, gọi nhau là anh / em, hay chị / em, hay bác / cháu.... tự dưng có cảm giác thân thuộc ngay. Có thể nói, bằng cách xưng hô dựa trên quan hệ thân tộc như thế, người Việt coi trọng sự gần gũi trong sự giao tiếp, một sự gần gũi được hiện hình ngay trong ngôn ngữ.
Tuy nhiên, ngoài đặc điểm vừa nêu, cách xưng hô trong tiếng Việt còn có đặc điểm thứ hai, hạn chế bớt sự gần gũi và thân thuộc trong sự tương tác: nó nặng tính đẳng cấp, bao gồm ba khía cạnh chính: vai vế trong gia đình, tuổi tác và chức vụ trong xã hội. Hệ thống danh từ chỉ thân tộc tiếng Việt phân biệt nặng nề về phái tính và tuổi tác. Về phái tính: số lượng từ vựng chỉ phái nam - và bên nội - nhiều hơn phái nữ và bên ngoại. Ví dụ, với phái nam, chúng ta có “bác” và “chú”, nhưng với phái nữ, chúng ta chỉ có một từ “cô” chỉ cả chị lẫn em của bố/ba/cha; với bên nội, chúng ta phân biệt anh hay em của bố/ba/cha; nhưng với bên ngoại, anh hay em chỉ có một chữ: “cậu” (cho phái nam) và “dì” (cho phái nữ). Về vai vế và tuổi tác cùng cha mẹ, nhưng lớn hơn chúng ta, chúng ta phân biệt “anh” và “chị”, nhưng nhỏ hơn chúng ta thì chỉ có một từ: “em”; ở bậc ngang hàng với cha mẹ, chúng ta có “bác”, “chú”, “cô”, “cậu” và “dì”, nhưng dưới đó thì chỉ có “con” và ‘cháu” (bao gồm cả cháu ruột, grandchildren, lẫn cháu họ, niece hay nephew). Ngoài hệ thống danh từ chỉ thân tộc, người Việt Nam cũng dùng hệ thống danh từ chỉ chức danh hay chức vụ để xưng hô (thầy/cô/giáo sư/bác sĩ/tiến sĩ, v.v...): Bản thân các từ này đều có tính đẳng cấp.
Có thể nói, trong sự tương tác, qua cách xưng hô dựa trên quan hệ thân tộc và chức vụ cũng như chức danh, người Việt Nam vừa gần gũi lại vừa xa cách: xa cách ngay trong sự gần gũi. Điều này làm cho việc học cách xưng hô trong tiếng Việt trở thành một trong những khó khăn lớn nhất đối với người ngoại quốc cũng như đối với ngay cả trẻ em Việt Nam sinh ra và lớn lên ở nước ngoài. Để quán triệt được cách xưng hô này, người ta cần phải có kiến thức liên văn hóa vững chắc.
***
Chú thích:
1.      Thói quen này đã có từ lâu, nhưng trở thành công khai và phổ biến nhất chủ yếu kể từ khi Kevin Rudd lên làm Thủ tướng vào năm 2007. Trong một cuộc họp báo, khi các phóng viên gọi “Thủ tướng”, Kevin Rudd vọt miệng nói ngay “Cứ gọi tôi là Kevin” – Just call me Kevin. Mới đây, cũng trong cuộc họp báo đầu tiên sau khi thắng cử ở tiểu bang New South Wales, khi các phóng viên bắt đầu câu hỏi bằng danh xưng “Thủ hiến”, Thủ hiến Barry O’Farrell cũng nói ngay: “Tôi còn có tên. Cứ gọi tôi là Barry”.
__________________________________________________________
Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc 

Trích nguồn: VOA
 

Posts Comments

©2006-2010 ·TNB